Từ Rủi ro đến Hệ số Beta – Rủi ro hệ thống & phi hệ thống

Rủi ro hệ thống & phi hệ thống - Nó là gì, đại lượng bằng chỉ số nào?. Bài viết này nhằm làm rõ vấn đề này, dành cho ai muốn tìm hiểu về thị trường chứng khoán nói riêng & chứng khoán nói chung.

http://inteves.com/uploads/News/pic/small_1196422110.nv.jpg

1. Rủi ro phi hệ thống (Unsystematic Risks) (Đo lường = Beta)

Là nhóm các rủi ro tác động riêng biệt đến từng Cty (từng cổ phiếu) như:

- Rủi ro kinh doanh

- Rủi ro tài chính

- Rủi ro bộ máy quản lý …v…v…

  • Đây là các rủi ro có thể giảm thiểu được nếu nhà đầu tư đầu tư vào nhiều CP
  • Đây còn gọi là Rủi ro có thể Đa dạng hoá được (Diversifiable Risks)

2. Rủi ro hệ thống (Systemactic Risks)

Là nhóm các rủi ro tác động đến toàn bộ thị trường, đến toàn bộ các Cty (toàn bộ CP)

Gồm 3 loại chính:

- Rủi ro thị trường (Giá CP lên xuống quanh gt thực)

- Rủi ro sức mua

- Rủi ro lãi suất

  • Đây là các rủi ro ko thể tránh khỏi => không thể đa dạng hoá
  • Đây còn gọi là Rủi ro KHÔNG thể đa dạng hoá được (non-diversifiable risks)

Mô hình định giá tài sản vốn (Capital Asset Pricing Model – CAPM)

Đây là một mô hình mô tả mối tương quan giữa rủi ro và thu nhập kì vọng, được sử dụng để định giá các chứng khoán có mức độ rủi ro cao.

Công thức tính toán như sau:

Giá trị chứng khoán = Tỷ lệ phi rủi ro + Tỷ lệ rủi ro của CK x (Thu nhập kỳ vọng – Tỷ lệ phi rủi ro)

Trong đó:

* Risk free rate (rf): tỉ lệ phi rủi ro
* Beta of the security: tỉ lệ rủi ro của chứng khoán
* Expected market return (rm): thu nhập kì vọng.

(?) Vì sao beta được giao cho “sứ mệnh” đo lường rủi ro của doanh nghiệp (Rủi ro phi hệ thống) ?

Beta được xác định với đầu vào là các tỷ suất lợi nhuận, mà tỷ suất này được tính toán dựa trên các mức giá của cổ phiếu theo thời gian. Hoá ra xét về mặt toán học beta chỉ là một công cụ đo lường khả năng biến động giá của các cổ phiếu so với sự biến động của chỉ số thị trường. như vậy tại sao nói beta là một đại diện cho rủi ro của doanh nghiệp. Tất nhiên chỉ có thể giải thích vấn đề này bằng EMH (Efficient Market Hyppothesis – Giả thuyết thị trường hiệu quả), theo thuyết này giá cả chứng khoán sẽ phản ánh tất cả mọi hoạt động của doanh nghiệp. Và như vậy beta đo lường rủi ro trong sự thay đổi mức giá của cổ phiếu, cũng chính là đo lường rủi ro của doanh nghiệp.

Trên thế giới, các thị trường tài chính phát triển được xem như là thị trường hiệu quả. Hệ số beta ở các thị trường này là một thước đo hiệu quả của rủi ro hệ thống.

(?) Ứng dụng của beta trên thế giới và Việt Nam như thế nào? (3)


Khi khái niệm beta ra đời, một nhà kinh tế học nổi tiếng khác là William Sharpe đã phát minh ra mô hình CAPM, chính mô hình này sẽ trả lời câu hỏi số 3. Chúng ta vẫn thường nghe câu châm ngôn của giới tài chính là high risk, high return. Điều này có nghĩa là beta của một cổ phiếu càng cao – hay rủi ro càng cao – thì lợi nhuận cũng phải cao để bù đắp cho sự sẵn lòng chấp nhận sự rủi ro đó. Trở lại với CAPM, ông Sharpe đã sử dụng hệ số beta để tìm mức phí bù đắp rủi ro khi đầu tư vào một cổ phiếu. Theo ông phí rủi ro của cổ phiếu bằng beta lần phí rủi ro của thị trường

Beta được xác định bằng phương pháp phân tích hồi quy tuyến tính – bình phương nhỏ nhất – với biến độc lập là và biến phụ thuộc là . Tuy nhiên, một số nơi để đơn giản hoá người ta giả định rf ít thay đổi và xem nó như một hằng số. Khi đó người ta thực hiện hồi quy với hai biến độc lập và phụ thuộc mới lần lượt.

Sau khi tìm ra hệ số beta được tính toán dựa vào các công ty chuyên cung cấp dịch vụ tính toán như Bloomberg, Baseline, Valueline hoặc do tự mỗi nhà đầu tư tính toán, dựa vào CAPM chúng ta sẽ tìm ra mức phí bù đắp rủi ro tương ứng với mức rủi ro mà chúng ta chấp nhận. tuy nhiên kết quả được xác định từ CAPM chỉ đủ để bù đắp rủi ro hệ thống mà không tính đến rủi ro của từng công ty. Do vậy chúng ta phải tiếp tục điều chỉnh mức phí này dể có thể bù đắp cho rủi ro tổng thể. Cách làm dơn giản nhất là cộng thêm vào mức phí được tính từ CAPM giá trị trung bình đơn giản của các sai số ngẫu nhiên khi chúng ta tiến hành hồi quy các dữ liệu quá khứ. các giá trị sai số ngẫu nhiên này đại diện cho các rủi ro phi hệ thống, và một giá trị trugn bình đơn giản của chúng là một thước đo phù hợp cho loại rủi ro này.

Ở các thị trường phát triển, beta được dùng để đánh giá một mức phí rủi ro chuẩn cho các nhà đầu tư. nếu mức phí thực tế của một cổ phiếu cao hơn mức phí chuẩn của chính cổ phiếu đó, thì đây là một cơ hội tốt để mua vào. Vì lúc này cổ phiếu đang bị định giá thấp hơn giá trị thật của nó. Và dĩ nhiên khi thị trường nhận ra sự hớ hênh của mình trong việc định giá cổ phiếu, thì khi đó giá của cổ phiếu sẽ được điều chỉnh tăng lên để mức phí rủi ro trở về mức chuẩn. Và ngược lại khi mức phí rủi ro thấp hơn mức chuẩn, thì lại là một cơ hội bán ra trước khi mức giá rơi xuống trở lại.

Chính EMH đã tước bỏ cái nhiệm vụ mà người ta giao cho beta ở thị trường Việt Nam. Thật vậy với sự hình thành và hoạt động trong hơn 7 năm, thì chưa thể nói TTCK Việt Nam là một thị trường hiệu quả. Những vấn đề tồn tại ở TTCK Việt Nam bao gồm:


• Thứ nhất đó là mức giá, EMH cho rằng mức giá phản ánh mọi hoạt động của doanh nghiệp. Nhưng ở Việt Nam mức giá chỉ thể hiện một phần mà thôi, phần lớn là do sự tác động từ cung cầu của các nhà đầu cơ. Do vậy beta được tính từ các mức giá này không thể nói lên rủi ro của doanh nghiệp.


• Thứ hai đó là danh mục thị trường. Hiện nay ở Việt Nam có hai chỉ số chính là VN-Index và Hastc-Index. hai chỉ số này chưa đủ sức để tạo nên một danh mục thị trường, dựa trên hai phương diện. Một là danh mục này chưa có đầy đủ các lĩnh vực ngành nghề trong nền kinh tế. Hai là trong từng lĩnh vực không bao gồm các doanh nghiệp đại diện cho lĩnh vực đó. Chính vì vậy sự biến động của danh mục chưa đánh giá chính xác sự biến động của nền kinh tế.


• Thứ ba khoảng thời gian các công ty được niêm yết còn quá ngắn. Chủ yếu được lên sàn từ cuối năm 2006, do đó dữ liệu giá chưa đủ độ dài để có thể tiến hành hồi quy tìm ra hệ số beta.
Sau những hạn chế vừa nêu của TTCK Việt Nam, vẫn biết beta hầu như không có ý nghĩa gì nếu được tính toán trong giai đoạn này. Nhưng có một ứng dụng mà tôi nghĩ sẽ là hữu ích nếu chúng ta sử dụng nó đúng cách. hãy trở về với bản chất đầu tiên của beta, đó là một công cụ thống kê đo lường khả năng biến động của cổ phiếu so với sự biến động của thị trường.

Vậy tại sao không sử dụng beta như một chỉ báo (Indicator) trong phân tích kỹ thuật. Theo đó khi beta bắt đầu vượt qua mốc 1, ta sẽ quan sát chỉ số VN-Index, nếu nó có dấu hiệu tăng lên thì sẽ là thời điểm nên mua vào, vì giá chứng khoán sẽ gia tăng theo sự gia tăng của chỉ số. ngược lại nếu chỉ số giảm thì nên bán ra vì giá chứng khoán sẽ giảm theo sự giảm của chỉ số.


WEBSITE tham khảo để xem thực tế Beta của các công ty niêm yết tại Việt Nam:
www.chungkhoan360.vn [right]Trích Từ [url]wWw.ueh.vn[/url][/rig

- Giang’s BLOG -

Social Widgets powered by AB-WebLog.com.

Read previous post:
File Excel định giá trái phiếu (DEMO)

File Excel định giá trái phiếu Phiên bản DEMOTẢI VỀ(Dung lượng: 370 Kb/ Dạng file: .RAR)(Những gì còn đọng lại...

Close